Di tích, danh thắng, văn hóa, lịch sử tại chiến khu Việt Bắc xưa

Thứ bảy - 31/10/2015 13:51
Việt Bắc là khu vực có nhiều tiềm năng về du lịch sinh thái, du lịch văn hóa -lịch sử và du lịch biên giới, với những di sản văn hóa vật thể là những điểm di tích quốc gia đặc biệt như An toàn khu Bắc Sơn ( Lạng Sơn); Hồ Ba Bể (Bắc Kạn), vườn di sản ASEAN; khu du lịch lịch sử và sinh thái Tân Trào (Tuyên Quang); các di tích thuộc ATK Định Hóa (Thái Nguyên); Suối Lê Nin, hang Pắc Bó (Cao Bằng); Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang); các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo, Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô (Hà giang), Chữ viết của người Dao (Bắc Kạn)...

Văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh tại các địa bàn thuộc Việt Bắc - thủ đô kháng chiến xưa

1. Các xã thuộc An toàn khu Lạng Sơn (ATK tại Lạng Sơn)


 Bắc Sơn  là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Lạng Sơn, với địa hình phức tạp, đồi núi chiếm gần 80% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện; là nơi có địa hình rừng núi rậm rạp, hiểm trở, bao bọc xung quanh là những dãy núi đá vôi cao sừng sững nối liền với các huyện của tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Thái Nguyên; đồng thời có các hang đá tự nhiên tạo nên địa thế vô cùng hiểm trở và có tính chiến lược đối với việc xây dựng căn cứ địa cách mạng,có thể che dấu và bảo toàn lực lượng, là phòng tuyến thiên nhiên có tác dụng ngăn cản sự tấn công của giặc, có tuyến giao thông quốc lộ 1B thông suốt giữa 2 tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên có vị trí quan trọng trong công tác quốc phòng, an ninh và là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng thuộc cánh cung Bắc Sơn của vùng Đông Bắc nước ta. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (tháng 5/1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì, Đảng ta đã quyết định chọn Bắc Sơn (thuộc tỉnh Lạng Sơn) và Võ Nhai (thuộc tỉnh Thái Nguyên) thành lập vùng căn cứ cách mạng Bắc Sơn – Võ Nhai, đây là vùng căn cứ địa cách mạng ở Việt Bắc, để chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Phát huy địa thế thuận lợi và truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm, nhân dân các dân tộc huyện Bắc Sơn đã đoàn kết một lòng làm nên cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9/1940 lịch sử. Để ghi nhận những đóng góp to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bắc Sơn, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định sô 1714/QĐ-TTG, ngày 23/9/2013 về việc công nhận 08 xã An toàn khu thuộc tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp bao gồm  08 xã: Vũ Lễ, Tân Hương, Tân Lập, Vũ Lăng, Bắc Sơn, Quỳnh Sơn, Hữu Vĩnh, Hưng Vũ.

An toàn khu Lạng Sơn tại xã Tân Lập:


 Là nơi hoạt động và chỉ đạo mở rộng xây dựng lực lượng phong trào cách mạng của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư xứ Ủy Bắc Kỳ trong những năm 1936; đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri, Nguyễn Cao Đàm, Võ Nguyên Giáp. Tại đây đã diễn ra các Hội nghị lớn của Trung ương Đảng.

An toàn khu Lạng Sơn tại xã Tân Hương:


 Nổi tiếng với các địa điểm thôn Mỏ Tát, đồi Nà Kheo, Sa Khao với  các  sự kiện nổi bật: thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của Châu Bắc Sơn do đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ Ủy Bắc Kỳ tổ chức vào ngày 26/9/1036. Thành lập Đội Du kích Bắc Sơn, đây là lực lượng vũ trang đầu tiên của Đảng ta (14/10/1940).

An toàn khu Lạng Sơn tại xã Hưng Vũ:


 Tại đây năm 1936 đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường Vụ Trung ương Đảng, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ đã trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Bắc Sơn. Ngày 27/9/1940 cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, dành thắng lợi tại Đồn Mỏ Nhài xã Hưng Vũ đập tan bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Châu Bắc Sơn. Đây cũng là nơi hoạt động của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, Trần Đăng Ninh trong thời gian chỉ đạo phong trào cách mạng ở Bắc Sơn.

An toàn khu Lạng Sơn tại xã Vũ Lăng:


Là nơi đồng chí Lê Xuân Thụ, phái viên trung ương Đảng lên củng cố phong trào cách mạng  ở Bắc Sơn trong năm 1936, cũng là nơi làm việc và hoạt động của đồng chí Trần Đăng Ninh – Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ và đồng chí Nguyễn Thành Diên - ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ trong năm 1940. Tại Mỏ Tát đã diễn ra sự kiện thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Bắc Sơn dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hoàng Văn Thụ. Năm 1938, xã Vũ Lăng được chọn làm điểm để mở rộng phong trào truyền bá chữ quốc ngữ và chỉ đạo triển khai các chủ trương của Xứ ủy Bắc Kỳ.

 An toàn khu Lạng Sơn tại xã Vũ Lễ:


Tại rừng Khuổi Nọi (xã vũ Lễ), ngày 23/2/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt trung ương Đảng quyết định đổi tên Đội du kích Bắc Sơn thành đội Cứu quốc quân I do đồng chí Trần Đăng Ninh làm chỉ huy trưởng. Địa điểm rừng Khuổi Nọi cũng chính là nơi ở và huấn luyện của Đội du kích Bắc Sơn và Đội Cứu quốc quân I.

 An toàn khu Lạng Sơn tại xã Bắc Sơn:


 Là nơi làm việc của đồng chí Trần Đăng Ninh- Bí thư Xứ Ủy Bắc kỳ và đồng chí Nguyễn Cao Đàm trong những năm 1942- 1945. Các địa điểm trong xã như đình Dục Lắc, Lân Hoài, Lân Lắc là nơi bí mật tổ chức huấn luyện quân sự của cán bộ, du kích và đội tự vệ các xã lân cận tuyệt đối an toàn.
 

An toàn khu Lạng Sơn tại xã Hữu Vĩnh:


Đây là địa bàn đồng chí Lê Xuân Thụ, phái viên trung ương Đảng lên củng cố xây dựng con đường chiến lược từ Bắc Sơn qua Bình Gia, Thất Khê đến biên giới Việt - Trung trong giai đoạn 1937- 1938.

An toàn khu Lạng Sơn tại xã Quỳnh Sơn:


 Là nơi đồng chí Hoàng Quốc Việt lên trực tiếp chỉ đạo các chi bộ ở Bắc Sơn gây dựng cơ sở từ năm 1937- 1940. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ  huyện Bắc Sơn, ngày 22/9/1940 quần chúng nhân dân xã Quỳnh Sơn đã tổ chức phục kích đánh Pháp tại cầu Ná Riềng, cung cấp vũ khí đánh chiếm đồn Mỏ Nhài, góp phần làm nên thắng lợi cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn.

 Di tích Khảo cổ Khu vực Mẫu Sơn:        


 Đỉnh Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía Đông, nằm ở độ cao 1.541m so với mặt nước biển với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm 15,60C, thích hợp cho hoạt động nghỉ dưỡng của con người. Với khí hậu mùa hè mát mẻ, mùa đông sương mù bao phủ quanh đỉnh núi với những ngày rét thỉnh thoảng có tuyết rơi, mùa xuân cả vùng Mẫu Sơn đỏ rực sắc hoa đào… đã trở thành điểm nhấn thu hút khách du lịch. Ngày 20/8/2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 2839/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng di tích cấp quốc giacho di tích khảo cổ khu vực Mẫu Sơn là khu Linh địa cổ Mẫu Sơn. Khu vực này đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Qua những đợt khai quật khảo cổ từ năm 2003 đã phát hiện nhiều hố có diện tích từ 50m2 đến 448m2, trải dài trên diện tích liền khoảnh 42.000m2. Ngoài các hố, qua khảo cổ còn phát hiện một số hầm mộ được xếp bằng đá. Các chuyên gia khảo cổ đều khẳng định đây là nơi chôn cất người chết từ xưa theo kiểu mộ Cự Thạch và Trác Thạch. Khu khảo cổ Mẫu Sơn (Linh địa cổ Mẫu Sơn) là một di tích quan trọng có liên quan đến hoạt động sống của cư dân trong vùng ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Ngoài ra, đây còn là nơi có nhiều dấu tích kiến trúc tín ngưỡng tâm linh như đình, đền cổ.

 

2. Hồ Ba Bể (Bắc Kạn)


Hồ Ba Bể thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, cách Hà Nội khoảng 220 km. Hồ Ba Bể theo tiếng địa phương là “Slam Pé” (nghĩa là ba hồ) gồm Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Từ núi cao nhìn xuống, hồ Ba Bể lọt thỏm giữa dãy núi đá vôi. Hồ co lại và bị kẹp giữa các vách đá dựng đứng. Mặt hồ trải dài 8 km, rộng từ 200 mét đến 1 km, độ sâu trung bình 17 – 23 mét, nơi sâu nhất là 29 mét. Không những nằm trong top 20 hồ nước ngọt lớn nhất thế giới, từ năm 2004, hồ còn được công nhận là vườn di sản ASEAN.

Ba Bể càng đẹp hơn bởi tài nguyên rừng phong phú, đa dạng. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện trong lòng hồ có nhiều loài cá nước ngọt đặc trưng của vùng đông bắc Việt Nam, trong đó có các loài quý hiếm như cá chép kính, rầm xanh, anh vũ và cá lăng.
 
Về cảnh quan, địa chất, đây là khu vực thể hiện rõ rệt dấu ấn lịch sử của các thời kỳ hình thành vỏ trái đất. Về địa chất địa mạo, đây là vùng đá vôi cổ rộng lớn, có đặc điểm kiến tạo rất đặc biệt. Vài năm gần đây, Viện địa chất phối hợp với Hội địa chất Bỉ đã tiến hành nghiên cứu vùng đá vôi Hồ Ba Bể. Họ khẳng định đây là vùng đá vôi có niên đại 450 triệu năm. Ðiều kỳ thú là trong quá trình biến đổi địa chất, đá vôi đã biến thành những mảng đá hoa cương. Theo các nhà địa chất thì việc đá vôi trở thành đá hoa cương là điều vô cùng độc đáo và hiếm thấy. Giữa một vùng núi đá vôi lại có một cái hồ lớn, thật kỳ diệu. Đáy hồ có một lớp đất sét dày tới 200 mét bịt kín, chính địa tầng sét này không cho nước thoát xuống và hồ được hình thành như vậy. Toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc làm say lòng những du khách tới nơi đây. Xuôi dòng sông Năng hướng về hồ Ba Bể. Đôi bờ của dòng sông là những vách núi đá vôi dựng đứng với bao điều kỳ lạ trong những câu chuyện cổ tích kể về biến cố của thiên nhiên để tạo ra hồ Ba Bể – một viên ngọc xanh giữa rừng đông bắc.

Toạ lạc giữa một vùng núi đá vôi rộng lớn, hồ Ba Bể mang vẻ đẹp hoang sơ và thơ mộng với không khí mát lạnh, dễ chịu. Vào sáng sớm, khi sương chưa tan, hồ mang vẻ đẹp huyền bí của một địa danh rộng lớn bao la. Cũng quang cảnh ấy, dưới ánh mặt trời rực rỡ vào ngày nắng đẹp là bức tranh thủy mặc hữu tình với mặt hồ bao la in đậm bóng núi mây trời, tạo làm say lòng cả những du khách khó tính nhất. Lãng mạn hơn là những cô gái Tày trong bộ đồ màu chàm, lúc ẩn lúc hiện trên những chiếc thuyền độc mộc nhỏ bé giữa cái bao la trời nước.

Không chỉ thu hút du khách ở vẻ đẹp của một hồ giữa lưng chừng núi cùng hệ thống phức hợp ao, động thác, Ba Bể có thu hút du khách với hơn 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống. Dưới lòng hồ có hơn 49 loài cá nước ngọt, trong đó có một số loại quý hiếm như cá chép kính, rầm xanh, anh vũ và cá lăng.

Ngoài việc chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên, đến Ba Bể, bạn còn tìm hiểu về cuộc sống hàng ngày của các tộc người Tày, Mông, Dao sinh sống tại 15 bản trong vườn quốc gia. Trong đó, người Tày là tộc người sống tại đây lâu nhất (hơn 2000 năm), cũng là là tộc người đông nhất (58%). Người dân ở đây rất hiếu khách, chỉ cần ngỏ lời, bạn sẽ được mời về nhà, uống chén rượu ngô cay, nhấm nháp thịt heo mọi gác bếp. Hay hoà mình vào các làn điệu dân ca như hát then, si, lượn, múa khèn; các lễ hội truyền thống như hội Lồng tồng, hội xuân, đua thuyền độc mộc, võ dân tộc, bắn cung, bắn nỏ…

Với lịch sử phát triển địa chất lâu dài có những nét đặc sắc về địa chất – địa mạo cũng như cảnh quan, Vườn quốc gia Ba Bể thực sự là một kỳ quan, xứng đáng là di sản thiên nhiên của thế giới.

3. Di tích lịch sử Pác Bó (Cao Bằng)


Di tích lịch sử Pác Bó nằm trên địa bàn xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Đây là địa điểm từng gắn với hoạt động của Bác trong giai đoạn đầu trở về Tổ quốc lãnh đạo Cách mạng (1941 - 1945).

Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc cùng 5 đồng chí đã về nước và ở tại nhà ông Lý Quốc Súng, sau đó chuyển vào hang Cốc Bó, hang Lũng Lạn và lán Khuổi Nặm. Tại đây, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, đã diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị đã nhận định rõ tình hình trong nước và thế giới, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng, phát triển chiến tranh du kích, khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Và, cũng tại lán Khuổi Nặm II, Bác đã thành lập Báo Việt Nam độc lập. Ngày 22/12/1944, tại rừng Trần Hưng Đạo, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, gồm 34 chiến sĩ, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Trong giai đoạn này, Bác đã biên soạn nhiều tài liệu như: Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, Cách đánh du kích, Điều lệ Đảng, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc và đặc biệt là biên soạn bức thư Kính cáo đồng bào (ngày 06/6/1941), kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh kẻ thù chung là thực dân Pháp, phát xít Nhật và Việt gian, giành độc lập, tự do. Ngày 04/5/1945, Bác cùng đoàn cán bộ rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo, tập hợp quốc dân tham gia tổng khởi nghĩa để giành chính quyền trong cả nước, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 02/9/1945), nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo “Quy hoạch tổng thể di tích” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, di tích Pác Bó bao gồm:


Cụm di tích khu vực đầu nguồn khu di tích Pác Bó
- Hang Cốc Bó (tiếng Nùng có nghĩa là “đầu nguồn”) rộng khoảng 80m2, cửa hang chỉ một người đi vừa. Đây là nơi Bác và các đồng chí cán bộ cách mạng ở từ ngày 08/02/1941 đến trung tuần tháng 3 năm 1941. Trong hang hiện còn một bộ bàn ghế mà Bác đã từng ngồi làm việc với các cán bộ cách mạng và dịch các tài liệu quan trọng.

- Nền nhà ông Lý Quốc Súng: là ngôi nhà Bác Hồ đã ở khi mới trở về Tổ quốc chỉ đạo cách mạng (từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 07/02/1941). Ngôi nhà này được xây dựng khoảng năm 1937, theo kiểu nhà sàn ở địa phương.

- Hang Lũng Lạn: là nơi Bác ở và làm việc trong khoảng cuối tháng 3 năm 1941. Hang rộng khoảng 50m2.

- Hang Ngườm Vài: tại đây, năm 1941, Bác trực tiếp dự và hướng dẫn và kết nạp Đảng cho đồng chí Nông Thị Trưng. Hang rộng khoảng 80m2.

- Suối Lê Nin: thời gian ở Pác Bó, Bác thường ngồi câu cá ở suối này. Đến nay, di tích vẫn giữ được cảnh quan tương đối nguyên vẹn.

- Nền nhà ông La Thanh: là cơ sở cách mạng quan trọng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Đây là nơi đón tiếp các đại biểu toàn quốc về dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hiện nay, di tích chỉ còn lại nền nhà cũ, diện tích rộng 131m2, đã được cắm bia giới thiệu di tích.

- Cột mốc 108: nay là cột mốc số 675, là một trong 314 cột mốc biên giới Việt - Trung xưa, được làm bằng đá tảng nguyên khối, hình bầu dục, cao khoảng 70cm, bên trên khắc nội dung bằng tiếng Trung và tiếng Pháp.

- Khu ruộng Goọc Mu: vốn là một xóm trong thôn Pác Bó; sau khi thực hiện chính sách quy hoạch lại khu cư trú để thành lập hợp tác xã nông nghiệp, xóm Goọc Mu được chuyển về trung tâm Pác Bó. Tại địa điểm Goọc Mu, năm 1940, nhân dân thôn Pác Bó đã từng vào đây cắt máu ăn thề, nguyện suốt đời đi theo cách mạng.

Các điểm lưu niệm tại khu trung tâm khu du lịch di tích Pác Bó
- Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và sân quảng trường: được xây dựng theo mô hình nhà sàn dân tộc, nằm trên dãy Linh Sơn, thuộc khu di tích Pác Bó, khánh thành năm 2011.

- Khu ruộng Nà Chang: có diện tích khoảng 5000m2,là nơi mít tinh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với nhân dân Pác Bó ngày 20/2/1961.

- Các công trình: nhà trưng bày, nhà đón tiếp.

Cụm di tích Kim Đồng

- Mộ Kim Đồng: nằm dưới chân núi Tèo Lài, thuộc làng Nà Mạ. Hiện nay, toàn bộ khu vực này được xây tường rào bao quanh. Bên trái mộ Kim Đồng là mộ của mẹ Kim Đồng, phía sau là tượng đài Kim Đồng và bức tường nghệ thuật, thể hiện ý nghĩa 14 mùa xuân của Kim Đồng.

- Hang Nộc Én: nằm ở dãy núi Phia Đài và Phia U, phía sau làng Nà Mạ. Tại địa điểm này, vào tháng 8 năm 1942, Kim Đồng đã được Bác giao nhiệm vụ thông tin liên lạc, bảo vệ cách mạng.

- Pò Đoi - Thoong Mạ: là nơi thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc (ngày 15/5/1941), do Kim Đồng là đội trưởng. Hiện nay, di tích đã được Tỉnh Đoàn Cao Bằng xây dựng nhà bia lưu niệm, ghi dấu sự kiện thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc và ghi danh những thành viên trong đội.

Cụm di tích Bó Bẩm
- Nhà ông Dương Văn Đình: là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nói chuyện, về cuộc sống của nhân dân, nỗi khổ của người dân mất nước, tuyên truyền về cách mạng.

- Núi Các Mác, suối Lê Nin, hang Đầu Hổ: là nơi nhân dân Cao Bằng đã tổ chức lễ truy điệu Bác (tháng 9 năm 1969).

Cụm di tích Khuổi Nặm
- Lán Khuổi Nặm: là nơi Bác ở lâu nhất. Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho Bác, các đồng chí cán bộ đã làm thêm cho Người hai lán nữa (lán Khuổi Nặm II và III). Lán Khuổi Nặm có địa thế rất thuận lợi, nằm ngay ở cửa rừng, được che kín, nhìn bên ngoài vào không phát hiện được, nhưng ở bên trong quan sát ra thì rất rõ, khi có động tĩnh có thể rút lui, ngược dòng Khuổi Nặm qua mốc 109 sang Trung Quốc an toàn. Lán được dựng theo kiểu nhà sàn dân tộc, với 2 gian nhỏ, có diện tích khoảng 12m2. Lán hiện nay mới được trùng tu lại trong khoảng thời gian gần đây.

- Hang Slí Điếng và hang Diêm Tiêu: là địa điểm được Bác sử dụng làm hòm thư bí mật, giai đoạn 1941 - 1945.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của Khu di tích, ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử Pác Bó là Di tích Quốc gia đặc biệt (Quyết định số 548/QĐ-TTg).

4. Di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Định Hóa (Thái Nguyên)


Di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Định Hóa thuộc địa phận các xã Phú Đình, Điềm Mặc, Thanh Định, Định Biên, Bảo Linh, Đồng Thịnh, Quy Kỳ, Kim Phượng, Bình Thành và thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích quy hoạch bảo tồn trên 5.200km2. Đây cũng là địa bàn giáp danh giữa các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Bắc Kạn.

Trong lịch sử, di tích từng được biết đến qua nhiều tên gọi khác nhau, như An toàn khu, Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa, Khu di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Trung ương, là nơi ở, làm việc và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954).

Năm 1981, Khu di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích quốc gia, gồm 13 di tích thành phần:

Nhà tù Chợ Chu (thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa):

Nhà tù Chợ Chu do thực dân Pháp xây dựng từ năm 1916, nâng cấp năm 1942, từng làm nơi giam giữ các chiến sĩ Việt Nam yêu nước và cách mạng. Hiện nay, di tích còn hai nền nhà dài, chạy song song (bên ngoài là nhà giam, bên trong là nhà ăn), nền nhà gác và bốt gác.

Địa điểm thành lập Việt Nam Giải phóng quân (xã Định Biên, huyện Định Hóa)


Sáng ngày 15/5/1945, lễ thành lập Việt Nam Giải phóng quân được diễn ra tại thửa ruộng Nà Nhậu (phía trước ngôi đình làng Quặng). Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng gồm các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Trần Đăng Ninh. Gần đây, tại địa điểm này đã dựng bia ghi dấu sự kiện và phục dựng lại đình làng Quặng.

Địa điểm Bác ở và làm việc tại đồi Khau Tý năm 1947 (xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa)


Đây là nơi ở và làm việc của Bác từ trung tuần tháng 5 năm 1947 đến đêm ngày 20/5/1947. Trong thời gian này, Bác đã đưa ra các quyết sách quan trọng để chỉ đạo quân dân ta đập tan cuộc tấn công lên Việt Bắc của quân Pháp trong chiến dịch Thu - Đông năm 1947. Cũng tại địa điểm này, Bác đã hoàn thành bản thảo cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc”.

Di tích được phục dựng vào năm 2004, 2005, với các hạng mục: nhà sàn, nhà bếp, giao thông hào...

Địa điểm Bác ở và làm việc tại đồi Tỉn Keo (1948 - 1954), xã Phú Đình, huyện Định Hóa


Di tích gồm các hạng mục: lán ở của Bác và lán của anh em bảo vệ, giúp việc, lán họp Bộ Chính trị, trạm gác, hầm trú, hào thoát xuống chân đồi… Tại đây, Bác đã soạn thảo, ký nhiều văn kiện quan trọng và cùng Bộ Chính trị đưa ra những quyết định quan trọng, đem lại thắng lợi thắng lợi cho chiến cuộc Đông Xuân (1953 - 1954).

Hiện tại, lán ở của Bác, lán họp Bộ Chính trị và một số hạng mục khác... đã được phục dựng lại bằng gỗ, vầu, mái lợp lá cọ.

Cụm di tích Bác ở Khuôn Tát: Cây đa, Đoạn suối Khuôn Tát - nơi Bác tắm, giặt và câu cá, Nhà sàn và hầm Bác ở đồi Nà Đình (xã Phú Đình, huyện Định Hóa)

Tại địa điểm này, Bác đã từng ở và làm việc từ ngày 20/11/1947 đến tháng 01 năm 1954. Trong thời gian tại đây, Bác đã đề ra nhiều quyết sách quan trọng để chỉ đạo kháng chiến, kiến quốc.

Năm 2000, đã phục dựng nhà sàn Bác ở, làm việc, hệ thống đường hầm và một số hạng mục khác trong di tích.

Địa điểm Tổng Bí thư Trường Chinh và Văn phòng Trung ương Đảng làm việc tại Phụng Hiển (1947 - 1949), xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa


Đây là nơi làm việc trong thời kỳ đầu của Tổng Bí thư Trường Chinh, Văn phòng Trung ương Đảng và Báo Sự thật tại ATK Định Hóa.

Địa điểm Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (1949 - 1954) tại xã Bảo Linh, huyện Định Hóa

Đây là trụ sở làm việc của đại tướng Võ Nguyên Giáp, Văn phòng Tổng Quân ủy và địa điểm Văn phòng Bộ Tổng Tư lệnh trên đồi Khau Cuội. Tại địa điểm này, nhiều kế hoạch quân sự quan trọng đã được xây dựng, trình Thường vụ Trung ương Đảng và Bác Hồ phê duyệt.

Năm 2004, Bộ Quốc phòng dựng lại lán làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hầm, hào bảo vệ,... lập nhà bia di tích Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh.

Thắng cảnh thác Khuôn Tát (xã Phú Bình, huyện Định Hóa)


Thác gồm 7 tầng, nằm trên đồi Khẩu Goại, thuộc dãy núi Khau Nhị, tiếp nối với dãy núi Hồng. Khi làm việc tại đồi Tỉn Keo, Bác từng ngồi câu cá và cùng anh em bảo vệ, giúp việc tắm, giặt tại thác này. Hiện nay, thác vẫn giữ được cảnh đẹp tự nhiên, môi trường trong sạch.

Địa điểm thành lập Hội Nhà báo Việt Nam (xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa)


Di tích thuộc xóm Roòng Khoa, bên sườn đồi Khẩu Goại. Đây là nơi đã diễn ra Hội nghị quyết định việc đổi tên Hội Nhà báo Việt Nam thành Hội Những người viết báo Việt Nam (ngày 21/4/1950). Tại đây, Hội Nhà báo Việt Nam đã phối hợp với một số cơ quan khác xây dựng nhà bia lưu miệm.

Địa điểm thành lập Ủy ban hòa bình Việt Nam (xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa)


Ngày 19/11/1950, tại xóm Roòng Khoa, xã Điềm Mặc, đã diễn ra Hội nghị thành lập Uỷ ban Bảo vệ hòa bình Việt Nam. Trong kháng chiến, Ủy ban này đã có những chủ trương, chính sách cổ vũ, động viên nhân dân ta và kiều bào ở nước ngoài, đặc biệt là ở Pháp, góp sức vào cuộc kháng chiến. Tại đây, Liên hiệp Các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam đã cho dựng bia đá, khắc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị.

Địa điểm thành lập Ủy ban Kiểm tra Trung ương (xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa)


Đây là nơi đặt trụ sở của Ban Kiểm tra Trung ương - cơ quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng (tại đồi Pụ Miếu, thôn Phụng Hiển). Hiện nay, tại khu vực này đã dựng nhà bia để ghi dấu sự kiện lịch sử.

Địa điểm Báo Quân đội nhân dân ra số đầu (20/10/1950) xã Định Biên, huyện Định Hóa


Ngày 20/10/1950, sau gần ba tháng chuẩn bị, Báo Quân Đội nhân dân đã ra số đầu tại thôn Khau Diều, xã Định Biên.

Hiện nay, Báo Quân đội nhân dân đã lập bia ghi dấu sự kiện tại di tích.

Địa điểm đồi Pụ Đồn, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp (1948) (xã Phú Đình, huyện Định Hóa)


Di tích là nơi lưu niệm sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp (ngày 20/01/1948) và chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí (ngày 28/5/1948). Năm 2008, đã xây dựng nhà bia ghi dấu sự kiện tại di tích.

An Toàn Khu (ATK) Định Hóa thực sự là một quần thể di tích quan trọng bậc nhất của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX, một Thủ đô kháng chiến với các vùng di tích trọng điểm: Pác Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang), ATK Định Hóa, Chợ Đồn, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Yên Sơn (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang) có ý nghĩa và giá trị trên nhiều mặt. Đặc biệt, ATK Định Hóa là nơi khởi phát, tổ chức chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương…

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của Khu di tích, ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử An toàn khu (ATK) Định Hóa (huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên) là Di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 548/QĐ-TTg).
 

5. Di tích lịch sử Tân Trào (Tuyên Quang)


Khu di tích lịch sử Tân Trào - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cơ quan Trung ương ở và làm việc trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nằm trên địa bàn các xã: Tân Trào, Minh Thanh, Trung Yên, Bình Yên, Lương Thiện (huyện Sơn Dương); Kim Quan, Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh, Đạo Viện, Công Đa, Phú Thịnh (huyện Yên Sơn). Đây cũng là địa bàn giáp gianh giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Tổng diện tích tự nhiên của toàn khu là 561,1km2, với 18 di tích và cụm di tích tiêu biểu, đã được xếp hạng di tích quốc gia:
Cụm di tích Nà Lừa gồm: lán Nà Lừa - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc từ cuối tháng 5 đến ngày 22/8/1945, nằm ở sườn Tây núi Nà Lừa; lán Cảnh vệ, cách lán Nà Lừa khoảng 20m về hướng Tây, là nơi ở của các đồng chí cảnh vệ, để đảm bảo an toàn cho Bác; lán Điện Đài - nơi thông tin liên lạc giữa Mặt trận Việt Minh và quân Đồng Minh (tại Côn Minh - Trung Quốc); lán Đồng Minh - nơi ghi dấu sự hợp tác giữa Mặt trận Việt Minh và Phái đoàn Đồng Minh;lán họp Hội nghị Cán bộ Toàn quốc của Đảng, cách lán Nà Lừa 20m về hướng Bắc, được dựng lên để phục vụ Hội nghị Toàn quốc của Đảng, diễn ra trong 03 ngày (từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945).

Di tích cây đa Tân Trào: chiều ngày 16/8/1945, tại địa điểm này, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Uỷ ban Khởi nghĩa Toàn quốc đọc Bản Quân lệnh số 1 và hạ lệnh xuất quân tiến về Hà Nội.

Di tích đình Tân Trào: đình Tân Trào là nơi tổ chức họp Quốc dân Đại hội (ngày 16 và 17/8/1945) - đại hội được ví như Hội nghị Diên Hồng thứ hai trong lịch sử nước ta.

Di tích đình Hồng Thái: đình Hồng Thái là địa điểm dừng chân đầu tiên của Bác Hồ khi từ Pắc Bó về Tân Trào (ngày21/5/1945). Địa điểm này cũng là trụ sở của Ban Bảo vệ An toàn khu, của bộ phận tiếp tế và là nơi đón tiếp đại biểu về dự các hội nghị của Đảng.

Cụm di tích trụ sở Phân khu Nguyễn Huệ: tháng 3 năm 1945, Khu uỷ Phân khu Nguyễn Huệ được chuyển về thôn Ao Búc, xã Trung Yên. Tại đây, Khu ủy đã quyết định thành lập chính quyền cách mạng (ngày 10/3/1945) và thành lập Uỷ ban Lâm thời Châu Tự Do - chính quyền cách mạng đầu tiên trong cả nước (ngày 16/3/1945).

Cụm di tích Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ: là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong thời kỳ này, trên các lĩnh vực nội chính, kinh tế, tài chính, văn hoá - xã hội...

Di tích Ban Tổ chức Trung ương: Ban Đảng Vụ cùng Trung ương Đảng (sau này đổi tên thành Ban Tổ chức Trung ương) đã ở và làm việc tại đây vào cuối năm 1949 và từ tháng 4 năm 1951 đến cuối năm 1953.

Di tích Ban Nông vận Trung ương: tháng 5 năm 1952, Ban Nông vận Trung ương chuyển đến ở và làm việc tại khu Ao Rừm, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương.

Di tích Ban Tuyên huấn Trung ương: Ban Tuyên truyền của Đảng (sau này đổi tên thành Ban Tuyên huấn Trung ương) đã từng ở và làm việc trên một quả đồi tại thôn Thia.

Di tích Việt Nam Thông tấn xã: trong hơn hai năm (kể từ năm 1952), Việt Nam Thông tấn xã đã đóng tại thôn Hoàng Lâu, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương để tuyên truyền, khích lệ nhân dân diệt giặc đói, giặc dốt và thông tin liên lạc phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Di tích Bộ Nội vụ: năm 1948, Bộ Nội vụ chuyển đến ở và làm việc tại thôn Yên Thượng, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương và đã chỉ đạo công tác bảo vệ an toàn cho Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ.

Di tích hầm và lán an toàn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng: đồng chí Tôn Đức Thắng đã ở và làm việc tại thôn Chi Liền, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương từ cuối năm 1952 đến tháng 7 năm 1954. Trong thời gian này, đồng chí đã chủ trì Hội nghị Liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội với Ủy ban Liên Việt (tháng 02 năm 1953), Hội nghị Toàn quốc của Ủy ban Liên Việt (tháng 11 năm 1953), Kỳ họp lần thứ ba của Quốc hội Khóa I (từ ngày 01 đến ngày 04 tháng 12 năm 1953) và nhiều cuộc họp quan trọng khác...

Di tích Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: từ giữa năm 1952 đến tháng 8 năm 1954, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ở và làm việc tại thôn Cầu, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương.

Di tích Bộ Ngoại giao: một thời gian ngắn đầu năm 1947, Bộ Ngoại giao chuyển đến ở và làm việc tại làng Hản, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn. Sau đó, Bộ chuyển về xóm Dõn, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương.

Di tích Nha Công an: tháng 4 năm 1947, Nha Công an Trung ương chuyển từ Phú Thọ đến “Nhà ông cả Nhã”, thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh. Đây là nơi đóng quân đâu tiên và trong thời gian dài nhất của Nha Công an Trung ương trong kháng chiến chống Pháp.

Di tích Nha Thông tin: Nha Thông tin được đặt tại thôn Mới, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương năm 1951. Tại đây, những bản tin, bài thơ, bài hát cách mạng... đã được đăng tải trên đài phát thanh, phản ánh trung thực đời sống tinh thần, tình hình chiến sự của đất nước và tuyên truyền đường lối kháng chiến của Đảng, Chính phủ đến nhân dân.

Di tích Bộ Tư pháp: từ cuối năm 1949 đến tháng 9 năm 1950, Bộ Tư pháp đã ở và làm việc tại thôn Mới, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương.

Cụm di tích Kim Quan, thôn Khuôn Điển, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn bao gồm: di tích lán ở, làm việc và hầm an toàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; di tích hầm an toàn của Chính phủ; di tích hầm an toàn của Trung ương Đảng; di tích Văn phòng Trung ương.

Ngoài ra, trong khu vực di tích hiện nay còn là nơi diễn ra nhiều sinh hoạt văn hoá đặc sắc của đồng bào các dân tộc, nơi lưu giữ nhiều hiện vật liên quan đến quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cơ quan Trung ương trong thời kỳ tiền khởi nghĩa và thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp...

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đặc biệt của khu di tích, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Khu di tích lịch sử Tân Trào (huyện Sơn Dương và huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) là di tích quốc gia đặc biệt(Quyết định số 548/QĐ-TTg, ngày 10/5/2012).
 

6. Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang)

 
Cao nguyên đá Đồng Văn (hay Sơn nguyên Đồng Văn) trải rộng trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc thuộc tỉnh Hà Giang. Ngày 3-10-2010, hồ sơ “Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn” đã được Hội đồng tư vấn mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu (GGN) của UNESCO chính thức công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Đây hiện là danh hiệu duy nhất ở Việt Nam và thứ hai ở Đông Nam Á.

Đồng Văn là một huyện vùng cao biên giới của Hà Giang, huyện lỵ cách thị xã Hà Giang 146km. Huyện có 19 xã thì 9 xã có đường biên giới với Trung Quốc. Mùa đông nhiệt độ có lúc xuống đến 1ºC, nhưng mùa hè nóng nhất chỉ khoảng 24ºC. Bầu trời hầu như quanh năm mưa và mù nên ở đây người dân có câu: "thấy nhau trong tầm mắt, gặp nhau mất nửa ngày" và "đất không ba bước bằng, trời không ba ngày nắng". Ðồng Văn có điểm cực Bắc của Việt Nam tại Lũng Cú. Người ta nói rằng nếu chưa lên Lũng Cú thì coi như chưa đến Ðồng Văn, bởi Lũng Cú là "nóc nhà của Việt Nam" nơi mà "cúi mặt sát đất, ngẩng mặt đụng trời". Theo khảo sát của các nhà khoa học ở Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản thì cao nguyên đá Đồng Văn đã trải qua tất cả các giai đoạn phát triển của vỏ trái đất, từ Đại cổ sinh, Đại trung sinh đến Đại tân sinh với 13 hệ tầng địa chất đã được phân chia, bao gồm Chang Pung, Lut Xia, Si Ka, Bắc Bun, Mia Lé, Si Phai, Tốc Tát, Lũng Nậm, Bắc Sơn, Đồng Đăng, Hồng Ngài, Sông Hiến và Lân Pảng, trong đó Chang Pung là hệ tầng cổ nhất có niên đại khoảng 540 triệu năm. Đến nay, các nhà khoa học đã xác định được ở Đồng Văn 139 biểu hiện Di sản địa chất (DSĐC) thuộc đủ loại, trong đó có 15 DSĐC cấp quốc tế, 68 cấp quốc gia và 56 cấp địa phương. Tại các trầm tích đá có tuổi khác nhau ở Đồng Văn, các nhà cổ sinh vật cũng đã phát hiện rất nhiều hóa thạch thuộc 19 nhóm: Tay cuộn, San hô vách đáy, San hô 4 tia, Lỗ tầng, Bọ ba thùy, Cá cổ, Trùng lỗ, Vỏ nón, Răng nón, Chân rìu, Chân bụng, Chân đầu, Động vật dạng rêu, Huệ biển, Vỏ cứng, Giáp xác cổ, Thực vật thủy sinh, Tảo cổ và Chitinozoa. Các cổ sinh vật hóa thạch này đã giúp các nhà khoa học hoàn chỉnh bức tranh lịch sử phát triển địa chất vùng cao nguyên đá Đồng Văn nói riêng và địa chất khu vực đông bắc Việt Nam – nam Trung Quốc nói chung.

Ðồng Văn nổi tiếng về trái ngon: đào, mận, lê, táo, hồng.. về cây dược liệu quý: tam thất, thục địa, hồi, quế.. Ðồng Văn còn nổi tiếng về phong cảnh như núi non, hang động, những rừng hoa đủ sắc màu.. Chính nơi đây đã tạo cho các nghệ sỹ nguồn cảm hứng sáng tác nên những tác phẩm hội hoạ, nhiếp ảnh độc đáo trên thế giới về thiên nhiên: núi rừng, ruộng bậc thang..                            

Tác giả bài viết: Trung tâm Xúc tiến Du lịch Lạng Sơn

Các bạn đang xem bài viết: Di tích, danh thắng, văn hóa, lịch sử tại chiến khu Việt Bắc xưa được đăng trong chuyên mục: Thông tin chung và cẩm nang du lịch miền Bắc khác của Du lịch S Việt Nam
QUÝ KHÁCH HÃY ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT NÀY:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Tìm tour du lịch Việt Nam

Chuyên trang Mua tour du lịch của Du lịch S Việt Nam cung cấp đa dạng các tour du lịch khởi hành từ các Tỉnh/ Thành phố với nhiều lựa chọn và ưu đãi dành cho  Du khách. Hiện tại Du lịch S Việt Nam đưa hệ thống hỏi đáp trực tuyến tại địa chỉ: http://dulichsvietnam.vn/chat. Ngoài ra Qúy khách có thể gửi tin nhắn từ cửa sổ hỗ trợ qua Facebook/Zalo/ Viber/ Line/ Whatsapp theo số điện thoại: 0911656363

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây